Thứ Sáu, 14/8/2020

Một số vướng mắc khi thực hiện chức năng kiểm sát theo quy định tại TTLT số 01/2017 ngày 29/12/2017 của Bộ Công an - Bộ Quốc phòng - Bộ Tài chính - Bộ NN&PTNT - Viện KSND tối cao
Vào lúc: 10:48 30/06/2020   Mã TL: 7   Mã tin: 3343

Tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố là nhiệm vụ hết sức quan trọng, đây là hoạt động mở đầu cho các giai đoạn tố tụng hình sự. Có tiếp nhận và giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, thì mới xác định được có tội phạm hay không có tội phạm xảy ra, để quyết định khởi tố hay quyết định không khởi tố vụ án hình sự. Bộ luật tố tụng hình sự năm năm 2015 quy định cụ thể hơn về trách nhiệm tiếp nhận và thẩm quyền giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố. Đây là nội dung mới so với các Bộ luật Tố tụng Hình sự trước đây nhằm đáp ứng yêu cầu giải quyết vụ án hình sự. Đến khi Thông tư liên tịch số 01/2017/TTLT-BCA-BQP-BTC-BNN&PTNT-VKSNDTC ngày 29/12/2017 (gọi tắt là Thông tư liên tịch số 01/2017) về quy định việc phối hợp giữa các cơ quan có thẩm quyền trong việc thực hiện một số quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 về tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/3/2018 là căn cứ pháp lý quan trọng về tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo tội phạm và kiến nghị khởi tố.

Qua công tác kiểm sát, thấy còn có những khó khăn, vướng mắc khi áp dụng Thông tư liên tịch số 01/2017 về việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố như sau:

1. Vướng mắc về việc gửi hồ sơ thụ lý, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố

Nội dung quy định về giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố tại khoản 1 Điều 9 của Thông tư liên tịch số 01/2017 chỉ quy định: “Trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày nhận được tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố thuộc thẩm quyền giải quyết, Thủ trưởng Cơ quan điều tra trực tiếp tổ chức, chỉ đạo, phân công Điều tra viên, Cán bộ điều tra thuộc quyền thụ lý giải quyết hoặc phân công Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra tổ chức, chỉ đạo thụ lý, giải quyết và thông báo bằng văn bản cho Viện Kiểm sát cùng cấp hoặc Viện kiểm sát có  thẩm quyền”. Không quy định Cơ quan điều tra gửi hồ sơ đăng ký thụ lý nguồn tin về tội phạm, quyết định phân công và tài liệu có liên quan kèm theo cho Viện Kiểm sát. Thực tiễn, khi Cơ quan điều tra thụ lý, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố thì phải đăng ký hồ sơ, hồ sơ gồm có tài liệu liên quan đến yêu cầu giải quyết, tài liệu, chứng cứ chứng minh cho yêu cầu, lời khai ban đầu,… Với quy định trên, thì không bắt buộc Cơ quan điều tra phải gửi hồ sơ và tài liệu kèm theo cho Viện Kiểm sát, gây khó khăn cho quá trình kiểm sát. Nhất là việc đề ra yêu cầu kiểm tra, xác minh nguồn tin về tội phạm, phải nghiên cứu nội dung tài liệu mới làm căn cứ chính xác cho việc yêu cầu kiểm tra, xác minh đúng trọng tâm.

2. Vướng mắc về việc ra quyết định gia hạn thời hạn kiểm tra, xác minh

Nội dung quy định thời hạn giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố tại khoản 2 Điều 11 Thông tư liên tịch số 01/2017 chỉ quy định: Chậm nhất 05 ngày trước khi hết thời hạn Cơ quan điều tra có văn bản đề nghị Viện Kiểm sát gia hạn thời hạn kiểm tra, xác minh. Với quy định này lại không quy định Cơ quan điều tra phải gửi kèm theo tài liệu để làm căn cứ để chứng minh cho đề nghị gia hạn là đúng quy định. Viện Kiểm sát không thể căn cứ vào nội dung văn bản đề nghị gia hạn, mà phải kiểm sát căn cứ để gia hạn, nếu không có căn cứ thì không ra quyết định gia hạn. Để thực hiện tốt việc này, thì Cơ quan điều tra phải gửi toàn bộ hồ sơ kèm theo tài liệu có liên quan cho Viện Kiểm sát để chứng minh cho việc gia hạn thời hạn kiểm tra, xác minh nguồn tin về tội phạm.

3. Vướng mắc về việc kiểm sát thông báo kết quả giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố

Tại Điều 14 Thông tư liên tịch số 01/2017 chỉ quy định khi kết thúc việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố thì Cơ quan điều tra gửi kết quả giải quyết cho Viện Kiểm sát theo quy định tại các điều 148, 154, 158 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Sau đó 03 ngày mới thông báo cho cá nhân, cơ quan, tổ chức đã tố giác, báo tin về tội phạm, kiến nghị khởi tố biết kết quả giải quyết vụ việc. Với quy định này, không quy định mang tính bắt buộc sau khi thông báo kết quả giải quyết Cơ quan điều tra phải gửi kết quả việc thông báo cho Viện Kiểm sát, gây khó khăn cho việc kiểm sát việc thông báo kết quả giải quyết của Cơ quan điều tra cho cá nhân, cơ quan, tổ chức đã báo tin.

Những nội dung quy định về công tác kiểm sát được cụ thể hóa tại Quy chế công tác thực hành quyền công tố, kiểm sát việc khởi tố, điều tra và truy tố (ban hành kèm theo Quyết định số 111/QĐ-VKSTC ngày 14 tháng 4 năm 2020 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao). Tuy nhiên, Quy chế nghiệp vụ chỉ mang tính áp dụng trong nội bộ ngành Kiểm sát, chưa có văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh mang tính bắt buộc, có giá trị pháp lý cao để thống nhất thực hiện. Thực tiễn kiểm sát việc thực hiện này, phải đến khi trực tiếp kiểm sát thì mới kiểm sát việc thông báo kết quả giải quyết vụ việc của Cơ quan điều tra.

Ngoài ra, Thông tư liên tịch số 01/2017 chưa quy định nội dung hồ sơ nguồn tin về tội phạm như thế nào, kết thúc hồ sơ, thông báo, chuyển các biên bản về hoạt động kiểm tra, xác minh và đóng dấu bút lục hồ sơ để làm tiền đề xác nhận tài liệu, chứng cứ cho giai đoạn sau.

Từ những vướng mắc nêu trên, chúng tôi đề ra một số đề xuất, kiến nghị như sau:

1. Tại Khoản 1 Điều 9 của Thông tư liên tịch số 01/2017 cần bổ sung thêm cụm từ “gửi kèm tài liệu, chứng cứ đã được đóng dấu bút lục cho Viện Kiểm sát” như sau:

“1. Trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày nhận được tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố thuộc thẩm quyền giải quyết, Thủ trưởng Cơ quan điều tra trực tiếp tổ chức, chỉ đạo, phân công Điều tra viên, Cán bộ điều tra thuộc quyền thụ lý, giải quyết hoặc ra Quyết định phân công Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra tổ chức, chỉ đạo thụ lý, giải quyết và thông báo bằng văn bản, kèm theo tài liệu, chứng cứ đã được đóng dấu bút lục của cơ quan Cảnh sát điều tra cho Viện kiểm sát cùng cấp hoặc Viện kiểm sát có thẩm quyền”.

2. Tại Khoản 2 Điều 11 Thông tư liên tịch số 01/2017 bổ sung thêm cụm từ: “gửi kèm theo tài liệu có trong hồ sơ để làm căn cứ gia hạn” như sau:

“Trường hợp chưa thể kết thúc việc kiểm tra, xác minh, chậm nhất 05 ngày trước khi hết thời hạn quy định tại khoản 1 Điều này, Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng (trong trường hợp được Thủ trưởng ủy quyền hoặc phân công), cấp trưởng, cấp phó (trong trường hợp được cấp trưởng ủy quyền hoặc phân công) cơ quan đang thụ lý, giải quyết phải có văn bản đề nghị Viện kiểm sát cùng cấp hoặc Viện kiểm sát có thẩm quyền gia hạn thời hạn kiểm tra, xác minh và gửi kèm theo tài liệu có trong hồ sơ để làm căn cứ gia hạn. Trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày nhận được văn bản đề nghị nêu trên và tài liệu chứng minh căn cứ gia hạn, Viện kiểm sát cùng cấp hoặc Viện kiểm sát có thẩm quyền phải xem xét, quyết định. Trường hợp đề nghị của cơ quan đang thụ lý, giải quyết là có căn cứ thì Viện trưởng hoặc Phó Viện trưởng Viện kiểm sát (trong trường hợp được Viện trưởng ủy quyền hoặc phân công) ra Quyết định gia hạn thời hạn kiểm tra, xác minh; thời hạn gia hạn kiểm tra, xác minh là không quá 02 tháng kể từ ngày hết thời hạn quy định tại khoản 1 Điều này. Trường hợp xét thấy đề nghị của cơ quan đang thụ lý, giải quyết là không có căn cứ thì Viện trưởng hoặc Phó Viện trưởng Viện kiểm sát (trong trường hợp được Viện trưởng ủy quyền hoặc phân công) ra văn bản thông báo nêu rõ lý do cho cơ quan đang thụ lý, giải quyết và cơ quan đang thụ lý, giải quyết phải dừng việc kiểm tra, xác minh, ra một trong các quyết định quy định tại khoản 1 Điều 147 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015”.

3. Tại Khoản 3 Điều 14 Thông tư liên tịch số 01/2017 bổ sung nội dung: “gửi kết quả việc thông báo cho Viện Kiểm sát” như sau: “Trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày kết thúc việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố, các cơ quan có thẩm quyền giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố có trách nhiệm thông báo cho cá nhân, cơ quan, tổ chức đã tố giác, báo tin về tội phạm, kiến nghị khởi tố biết kết quả giải quyết vụ việc”. Việc thông báo kết quả giải quyết phải được lập bằng văn bản theo thủ tục cấp, giao, chuyển gửi, niêm yết theo quy định tại các Điều 137, 138, 139, 140, 141, 142 Bộ luật Tố tụng Hình sự và gửi cho Viện Kiểm sát văn bản cấp, giao, chuyển, gửi, niêm yết.

4. Thông tư liên tịch số 01/2017 cần bổ sung thêm quy định về nội dung hồ sơ nguồn tin về tội phạm như thế nào, kết thúc hồ sơ, thông báo, chuyển các biên bản về hoạt động kiểm tra, xác minh và đóng dấu bút lục hồ sơ, như sau:

Thông báo, chuyển các biên bản về hoạt động kiểm tra, xác minh và đóng dấu bút lục hồ sơ trong giai đoạn tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố

 Các hoạt động kiểm tra, xác minh tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố thì sau khi kết thúc hoạt động, Cơ quan điều tra, cơ quan được giao một số hoạt động điều tra phải chuyển biên bản, tài liệu về các hoạt động kiểm tra, xác minh cho Viện kiểm sát theo đúng quy định tại Khoản 5 Điều 88 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

 Trước khi chuyển cho Viện kiểm sát biên bản, tài liệu về hoạt động kiểm tra, xác minh,Cơ quan điều tra, cơ quan được giao một số hoạt động điều tra phải đóng dấu bút lục của cơ quan mình (nhưng chưa đánh số bút lục) vào góc trên bên phải của từng trang biên bản, tài liệu. Kiểm sát viên đóng dấu bút lục của Viện kiểm sát (không phải đánh số bút lục) vào góc dưới bên phải của từng trang biên bản, tài liệu theo quy định này và biên bản, tài liệu do Kiểm sát viên thu thập.

 Việc đóng dấu bút lục biên bản, tài liệu trong hồ sơ khi kết thúc việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố được thực hiện như sau: Khi kết thúc việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố, các biên bản, tài liệu do Cơ quan điều tra, cơ quan được giao một số hoạt động điều tra, Viện kiểm sát thu thập đều phải được đóng dấu, đánh số bút lục theo quy định, đưa vào hồ sơ giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tốvà lập bảng thống kê đầy đủ các biên bản, tài liệu theo thứ tự từ 01 cho đến hết.

          Hoàng Kiển

VKSND huyện An Biên 

 





 
Đăng vào lúc: 08:25 11/08/2020
Ngày 04 tháng 8 năm 2020, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 1180/QĐ-TTg ban hành Danh mục bí mật Nhà nước thuộc Viện Kiểm sát nhân dân (VKSND). Theo đó, Danh mục bí mật Nhà nước thuộc VKSND gồm 02 mức độ mật: bí mật Nhà nước độ tối mật và bí mật Nhà nước độ mật.

 
Đăng vào lúc: 16:44 10/08/2020
Ngày 15/7/2020, Chính phủ ban hành Nghị định số 82/2020/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp; hành chính tư pháp; hôn nhân gia đình; thi hành án dân sự; phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã. Nghị định gồm 09 chương, 91 điều, quy định về hành vi vi phạm hành chính, hình thức xử phạt, mức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả đối với hành vi vi phạm hành chính, thẩm quyền lập biên bản, thẩm quyền xử phạt, mức phạt tiền cụ thể theo từng chức danh đối với hành vi vi phạm hành chính trong các lĩnh vực sau đây:

 
Đăng vào lúc: 08:13 31/07/2020
Sáng ngày 29/7/2020 Viện Kiểm sát nhân dân (VKSND) tỉnh Kiên Giang đã tổ chức Hội nghị họp trực tuyến đến 15 điểm cầu VKSND cấp huyện quán triệt, triển khai Thực hiện Văn bản số 3238/VKSTC-VP, ngày 28/7/2020 của Viện Kiểm sát nhân dân tối caovề việc đẩy mạnh công tác phòng, chống dịch bệnh viêm đường hô hấp cấp do virut Covid-19.

 
Đăng vào lúc: 07:59 31/07/2020
Vừa qua, Viện Kiểm sát nhân dân (VKSND) tối cao ban hành Quyết định 264/QĐ-VKSTC ngày 21/7/2020 về ban hành Quy trình tạm thời kiểm sát việc ghi âm, ghi hình có âm thanh của cơ quan có thẩm quyền điều tra; trực tiếp ghi âm, ghi hình có âm thanh khi hỏi cung bị can, lấy lời khai trong các giai đoạn khởi tố, điều tra, truy tố (gọi tắt là Quy trình tạm thời kiểm sát việc ghi âm, ghi hình)....

 
Đăng vào lúc: 13:17 30/07/2020
Vừa qua, Đảng bộ thành phố Hà Tiên long trọng tổ chức Đại hội đại biểu lần thứ XIII, nhiệm kỳ 2020 - 2025. Đại hội vinh dự được đón đồng chí Nguyễn Tấn Dũng, nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Thủ tướng Chính phủ; đồng chí Đặng Tuyết Em, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch Hội đồng nhân dân tỉnh Kiên Giang tới dự và chỉ đạo Đại hội. Cùng dự có các đồng chí Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Bí thư các đảng bộ trực thuộc Tỉnh ủy và 231 đại biểu là những đảng viên tiêu biểu đại diện cho 1.700 đảng viên của 45 tổ chức cơ sở đảng trong toàn thành phố tham dự Đại hội.

 
Đăng vào lúc: 13:12 30/07/2020
Sau hơn hai ngày làm việc, sáng ngày 23-7-2020, Đại hội Đại biểu Đảng bộ huyện Phú Quốc lần thứ XII (nhiệm kỳ 2020 - 2025) đã bế mạc. Đại hội đã bầu ra Ban Chấp hành khóa mới gồm 42 đồng chí, trong đó Ban Thường vụ có 14 đồng chí. Đồng chí Mai Văn Huỳnh- Ủy viên Ban Thường vụ tỉnh ủy, Bí thư Huyện ủy tái đắc chức danh Bí thư Huyện ủy và hai Phó Bí thư tái đắc cử là ông Nguyễn Đức Kỉnh và Đinh Khoa Toàn.
 


 
Đăng vào lúc: 10:20 01/08/2014
Thực hiện công tác kiểm sát thi hành án dân sự (THADS) nhằm đảm bảo cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất, quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước, tổ chức và công dân được pháp luật bảo vệ, đồng thời xác định rõ trách nhiệm của Ngành để công tác kiểm sát thi hành án dân sự đạt hiệu quả, Lãnh đạo Viện Kiểm sát nhân dân (VKSND) huyện Kiên Lương đã chủ động chọn khâu đột phá trong công tác kiểm sát thi hành án dân sự, qua thực hiện trong 6 tháng đầu năm đạt nhiều kết quả đáng kể.

 
Đăng vào lúc: 10:33 05/08/2014
Ngày 30/7/2014, Vụ Kiểm sát giam giữ và thi hành án hình sự Viện Kiểm sát nhân dân tối cao (Vụ 4) đã có buổi làm việc với Trại tạm giam Công an tỉnh, Trại giam Kênh 7 Tổng cục VIII Bộ Công an và Cơ quan Thi hành án hình sự Công an tỉnh nhằm nắm tình hình trong công tác giam giữ, quản lý giam giữ và thi hành án hình sự.

 
Đăng vào lúc: 13:55 05/08/2014
Đoàn kiểm tra của Viện Kiểm sát nhân dân (VKSND) tối cao do đồng chí Đỗ Văn Kha, Phó Vụ trưởng Vụ Kiểm sát thi hành án dân sự làm Trưởng đoàn (đứng) tiến hành kiểm tra công tác kiểm sát tạm giữ, tạm giam, thi hành án hình sự và kiểm sát thi hành án dân sự tại VKSND tỉnh Kiên Giang từ ngày 28/7/2014 đến ngày 01/8/2014.

 
Đăng vào lúc: 10:10 06/08/2014
Phòng Thống kê tội phạm Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang được thành lập vào tháng 6/2003 trên cơ sở tách ra từ bộ phận thống kê của Văn phòng tổng hợp. Đến cuối năm 2012, đổi tên thành Phòng Thống kê tội phạm và công nghệ thông tin theo Nghị quyết số 522d/NQ-UBTVQH ngày 16/8/2012 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Việc thành lập Phòng Thống kê tội phạm và công nghệ thông tin là bước chuyển biến phù hợp với quá trình đổi mới, với chương trình cải cách hành chính, cải cách tư pháp đến năm 2020.

 
Đăng vào lúc: 09:13 12/08/2014
Thời gian qua, công tác thực hành quyền công tố (THQCT) và kiểm sát hoạt động tư pháp đều được Viện Kiểm sát nhân dân (VKSND) huyện An Biên chú trọng thực hiện. Tuy nhiên, trên thực tế công tác kiểm sát việc giải quyết các tố giác tin báo về tội phạm của đơn vị đối với Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an huyện An Biên vẫn gặp rất nhiều khó khăn, hạn chế nhất định.

 
Đăng vào lúc: 15:25 25/09/2013
Như chúng ta đã biết tranh tụng của Kiểm sát viên tại phiên tòa xét xử các vụ án hình sự có vai trò hết sức quan trọng. Nhận thức được ý nghĩa, tầm quan trọng của việc tranh tụng tại phiên tòa, những năm qua, Ban Cán sự Đảng, Lãnh đạo VKSND tỉnh đã chỉ đạo và tổ chức cho cán bộ, Kiểm sát viên trong toàn ngành quán triệt sâu sắc các Nghị quyết của Đảng để nhận thức đúng và đầy đủ về vai trò của Kiểm sát viên trong công tác thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử các vụ án hình sự.

 
 
VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG
Địa chỉ: Số 573 Nguyễn Trung Trực, P. An Hòa, TP. Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang
Chịu trách nhiệm: ông Lê Văn Dương - Phó Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang.
Email: bbt.vkskiengiang@gmail.com     Ðiện thoại: 0297. 3811869     Fax: 0297. 3811873