Thứ Hai, 19/4/2021

Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn về áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời quy định tại BLTTDS
Vào lúc: 16:10 02/12/2020   Mã TL: 4   Mã tin: 3554

2020_06_11_16_03_05_1.jpg

Ngày 24/9/2020, Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao ban hành Nghị quyết số 02/2020/NQ-HĐTP về việc hướng dẫn áp dụng một số quy định về các biện pháp khẩn cấp tạm thời (BPKCTT) của Bộ luật tố tụng dân sự (gọi tắt là Nghị quyết số 02/2020).

Nghị quyết số 02/2020 gồm 20 điều, trong đó đáng chú ý các nội nội dung sau:

* Về quyền yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời:

1. Đương sự, người đại diện hợp pháp của đương sự hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện vụ án quy định tại Điều 187 của BLTTDS (sau đây gọi chung là đương sự) có quyền yêu cầu Tòa án áp dụng một hoặc nhiều biện pháp khẩn cấp tạm thời quy định tại Điều 114 của BLTTDS  trong những trường hợp sau đây:

a) Để tạm thời giải quyết yêu cầu cấp bách của đương sự có liên quan trực tiếp đến vụ án đang được Tòa án giải quyết mà cần phải được giải quyết ngay, nếu chậm trễ sẽ ảnh hưởng xấu đến đời sống, tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản của đương sự;

Ví dụ: A gây thương tích cho B. Tòa án đang giải quyết vụ án yêu cầu bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm. B cần tiền ngay để điều trị thương tích tại bệnh viện nên B yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời buộc A thực hiện trước một phần nghĩa vụ bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm.

b) Để thu thập, bảo vệ chứng cứ của vụ án đang do Tòa án thụ lý, giải quyết trong trường hợp đương sự cản trở việc thu thập chứng cứ hoặc chứng cứ đang bị tiêu hủy, có nguy cơ bị tiêu hủy hoặc sau này khó có thể thu thập được;

Ví dụ: A khởi kiện tranh chấp ranh giới bất động sản liền kề với B, A yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời cấm thay đổi hiện trạng tài sản đang tranh chấp, buộc B giữ nguyên hiện trạng mốc giới ngăn cách đất, không được di dời.

c) Để bảo toàn tình trạng hiện có, tránh gây thiệt hại không thể khắc phục được, tức là bảo toàn mối quan hệ, đối tượng có liên quan trực tiếp đến vụ án đang được Tòa án giải quyết;

Ví dụ: Trong vụ án ly hôn, người vợ đứng tên sổ tiết kiệm tại ngân hàng, người chồng yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời phong tỏa tài khoản đứng tên người vợ để bảo đảm cho việc giải quyết phân chia tài sản chung của vợ chồng.

d) Để bảo đảm việc giải quyết vụ án hoặc thi hành án, tức là làm cho chắc chắn các căn cứ để giải quyết vụ án, các điều kiện để khi bản án, quyết định của Tòa án được thi hành thì có đầy đủ điều kiện để thi hành án.

Ví dụ: A là nguyên đơn, yêu cầu Tòa án buộc B phải trả cho A 1.000.000.000 đồng tiền vay, để bảo đảm cho việc thi hành án nên A yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời phong tỏa tài sản thuộc quyền sở hữu của B là ngôi nhà X trị giá 900.000.000 đồng.

2. Đối với vụ án có áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, trong thời gian tạm đình chỉ giải quyết vụ án, Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án phải theo dõi, xem xét về việc thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời đã áp dụng khi có một trong các căn cứ quy định tại các điểm a, b, c, d, đ, e khoản 1 Điều 138 của BLTTDS.

Trong thời gian tạm đình chỉ giải quyết vụ án mà có yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời thì Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án có trách nhiệm xem xét, quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời.

3. Tòa án không áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trong giải quyết việc dân sự quy định tại Phần thứ sáu của BLTTDS.

4. Trường hợp xét đơn yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài mà người yêu cầu có đơn đề nghị áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời thì Tòa án nhân dân đang thụ lý giải quyết theo thủ tục sơ thẩm căn cứ quy định tại khoản 6 Điều 438 của BLTTDS để giải quyết.

* Về việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời đồng thời với việc nộp đơn khởi kiện quy định tại khoản 2 Điều 111 của BLTTDS:

1. Khi có một trong các căn cứ sau đây, đồng thời với việc nộp đơn khởi kiện (đơn khởi kiện phải được làm theo đúng quy định tại Điều 189 của BLTTDS) thì cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền yêu cầu Tòa án có thẩm quyền ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời quy định tại Điều 114 của BLTTDS:

a) Do tình thế khẩn cấp, tức là cần được giải quyết ngay, không chậm trễ;

b) Cần bảo vệ ngay chứng cứ trong trường hợp nguồn chứng cứ đang bị tiêu hủy, có nguy cơ bị tiêu hủy hoặc sau này khó có thể thu thập được;

c) Ngăn chặn hậu quả nghiêm trọng có thể xảy ra (hậu quả về vật chất hoặc về tinh thần).

2. Tòa án có thẩm quyền ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời là Tòa án có thẩm quyền thụ lý đơn khởi kiện và giải quyết vụ án theo quy định tại các điều 35, 36, 37, 38, 39 và 40 của BLTTDS.

3. Trường hợp đơn khởi kiện thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án khác thì Tòa án đã nhận đơn khởi kiện chuyển ngay hồ sơ khởi kiện và đơn yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời cho Tòa án có thẩm quyền giải quyết.

4. Trường hợp đơn khởi kiện đã có các nội dung để xác định việc thụ lý và giải quyết vụ án là thuộc thẩm quyền của Tòa án nhận đơn nhưng cần phải sửa đổi, bổ sung một số nội dung khác thì Tòa án thụ lý giải quyết đơn yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời ngay theo quy định tại khoản 3 Điều 133 của BLTTDS và hướng dẫn tại Điều 11 Nghị quyết này. Việc yêu cầu sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện và thụ lý vụ án được thực hiện theo quy định tại Điều 193 và Điều 195 của BLTTDS.

* Những trường hợp không áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời:

1. Việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời dẫn đến doanh nghiệp, hợp tác xã bị ngừng hoạt động.

Ví dụ: Áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời phong tỏa toàn bộ tài khoản duy nhất của doanh nghiệp dẫn đến doanh nghiệp bị ngừng hoạt động.

2. Việc áp dụng biện pháp cấm chuyển dịch quyền về tài sản đối với tài sản đang tranh chấp, biện pháp phong tỏa tài sản của người có nghĩa vụ quy định tại khoản 7 và khoản 11 Điều 114 của BLTTDS đối với tài sản là:

a) Tài sản được dùng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ mà biện pháp bảo đảm đã phát sinh hiệu lực đối kháng với người thứ ba theo quy định tại Điều 297 Bộ luật Dân sự số 91/2015/QH13 ngày 24 tháng 11 năm 2015 (sau đây gọi tắt là Bộ luật Dân sự), trừ trường hợp người yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời đồng thời là bên nhận bảo đảm;

b) Tài sản đã được tổ chức bán đấu giá và người mua được tài sản bán đấu giá đã nộp đủ tiền mua tài sản bán đấu giá, trừ trường hợp kết quả bán đấu giá bị hủy theo quy định của pháp luật hoặc đương sự có thỏa thuận khác.

3. Việc áp dụng biện pháp phong tỏa tài khoản tại ngân hàng, tổ chức tín dụng khác quy định tại khoản 10 Điều 114 của BLTTDS đối với tài khoản được doanh nghiệp sử dụng để thanh toán nghĩa vụ đối với tổ chức tín dụng theo thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng.

4. Việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời đối với tài sản trong các trường hợp sau đây:

a) Tài sản bị cấm lưu thông theo quy định của pháp luật; tài sản phục vụ quốc phòng, an ninh, lợi ích công cộng;

b) Tài sản của cá nhân gồm: Lương thực đáp ứng nhu cầu thiết yếu; thuốc cần dùng để phòng, chữa bệnh; vật dụng cần thiết của người tàn tật, vật dụng dùng để chăm sóc người ốm; đồ dùng thờ cúng thông thường theo tập quán ở địa phương; công cụ lao động cần thiết, có giá trị không lớn được dùng làm phương tiện sinh sống thiết yếu của người bị áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời; đồ dùng sinh hoạt thiết yếu;

c) Tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã, cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ gồm: Thuốc phục vụ việc phòng, chữa bệnh cho người lao động; lương thực, thực phẩm, dụng cụ và tài sản khác phục vụ bữa ăn cho người lao động; nhà trẻ, trường học, cơ sở y tế và thiết bị, phương tiện, tài sản khác thuộc các cơ sở này, nếu không phải là tài sản để kinh doanh; trang thiết bị, phương tiện, công cụ bảo đảm an toàn lao động, phòng, chống cháy nổ, phòng, chống ô nhiễm môi trường.

Ngoài các nội dung trên, Nghị quyết số 02/2020 còn hướng dẫn về việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời đồng thời với việc nộp đơn khởi kiện quy định tại khoản 2 Điều 111 BLTTDS; quy định về những trường hợp không áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời; hướng dẫn về việc Tòa án tự mình ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời quy định tại khoản 3 Điều 111 của BLTTDS; về việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời thuộc trường hợp tại điểm b và điểm c khoản 2 Điều 113 của BLTTDS; về việc kê biên tài sản đang tranh chấp theo quy định tại Điều 120 của BLTTDS; về việc cấm hoặc buộc thực hiện hành vi nhất định quy định tại Điều 127 của BLTTDS; về cấm xuất cảnh đối với người có nghĩa vụ quy định tại Điều 128 của BLTTDS; về thủ tục áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời quy định tại khoản 2 Điều 133 của BLTTDS; về thủ tục giải quyết yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời cùng với việc nộp đơn khởi kiện quy định tại khoản 3 Điều 133 của BLTTDS; về xác định giá trị tương đương khi phong tỏa tài khoản, tài sản quy định tại khoản 4 Điều 133 của BLTTDS; về buộc thực hiện biện pháp bảo đảm quy định tại khoản 1 Điều 136 của BLTTDS; về buộc thực hiện biện pháp bảo đảm là khoản tiền, kim khí quý, đá quý hoặc giấy tờ có giá quy định tại khoản 2 Điều 136 của BLTTDS; về thay đổi, áp dụng bổ sung biện pháp khẩn cấp tạm thời quy định tại Điều 137 của BLTTDS; về giải quyết khiếu nại, kiến nghị về quyết định áp dụng thay đổi, hủy bỏ hoặc không áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 141 của BLTTDS; về giải quyết khiếu nại, kiến nghị về quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ hoặc không áp dụng thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời tại phiên tòa quy định tại khoản 3 Điều 141 của BLTTDS; về quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời quy định tại Điều 291 của BLTTDS.

Nghị quyết 02/2020/NQ-HĐTP có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/12/2020 và thay thế Nghị quyết 02/2005/NQ-HĐTP ngày 27/4/2005./.

                                                                                        Huỳnh Đạm





 
Đăng vào lúc: 08:17 14/04/2021
Những tháng đầu năm 2021, tình hình dịch bệnh Covid – 19 diễn biến phức tạp, một số người Việt Nam sinh sống và làm việc ở Campuchia, trong đó có người nước ngoài, mong muốn nhập cảnh vào Việt Nam nhưng lại không muốn bị đưa vào khu cách ly tập trung nên tìm cách nhập cảnh vào Việt Nam trái phép tại các địa bàn giáp biên giới đường bộ và đường biển (tuyến biên giới Tây nam, Việt Nam - Campuchia) như: thành phố Hà Tiên, Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang. Đây là điều kiện thuận lợi để cho các đối tượng ở trong và ngoài nước chuyên môi giới để trục lợi, tổ chức cho người khác xuất cảnh, nhập cảnh hoặc ở lại Việt Nam trái phép hoạt động mạnh hơn.

 
Đăng vào lúc: 08:07 14/04/2021
Thực hiện Quyết định số 108/QĐ-VKS và Kế hoạch số 109/KH-VKS ngày 24/3/2021 của Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân huyện Kiên Hải về trực tiếp kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố (gọi tắt là nguồn tin về tội phạm). Sáng ngày 09/4/2021, Đoàn Kiểm sát do đồng chí Phạm Đình Chiến - Phó Viện trưởng làm Trưởng đoàn tiến hành trực tiếp kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm tại Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Kiên Hải.

 
Đăng vào lúc: 13:54 08/04/2021
Đề ra yêu cầu kiểm tra, xác minh nguồn tin về tội phạm (tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố) là một trong những quyền năng quan trọng của Viện Kiểm sát, thẩm quyền cơ bản này được giao cho Kiểm sát viên được phân công thực hành quyền công tố, kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm. Bản yêu cầu, kiểm tra xác minh thể hiện ý chí, quan điểm của Kiểm sát viên trong quá trình kiểm sát việc giải quyết nguồn tin về tội phạm, thể hiện năng lực, trình độ, bản lĩnh, nắm chắc hồ sơ vụ việc và bám sát tiến độ kiểm tra, xác minh của Kiểm sát viên trong việc yêu cầu thu thập chứng cứ, được lưu vào hồ sơ nguồn tin về tội phạm và hồ sơ kiểm sát...

 
Đăng vào lúc: 08:09 07/04/2021
Ngày 01/4/2021, Viện Kiểm sát nhân dân (VKSND) tỉnh tổ chức Lễ công bố và trao Quyết định bổ nhiệm Kiểm sát viên trung cấp, sơ cấp. Chủ trì buổi lễ ông Nguyễn Ngọc Phúc- Tỉnh ủy viên, Bí thư Ban Cán sự Đảng, Viện trưởng tỉnh; dự lễ còn có các Phó Viện trưởng VKSND tỉnh; Thủ trưởng các đơn vị VKSND tỉnh, Lãnh đạo VKSND cấp huyện và các Kiểm sát viên trung cấp, Kiểm sát viên sơ cấp được nhận Quyết định bổ nhiệm chức danh Kiểm sát viên.

 
Đăng vào lúc: 14:36 31/03/2021
Vừa Chi đoàn Liên ngành huyện Kiên Lương đã phân công đoàn viên tham gia hưởng ứng hoạt động “Ngày thứ 7 tình nguyện”, hướng dẫn thủ tục hồ sơ và cấp thẻ căn cước công dân cho người dân trên địa bàn huyện.

 
Đăng vào lúc: 13:54 18/03/2021
Trong năm 2020, tình hình tội phạm trên địa bàn thành phố Rạch Giá tuy có chiều hướng giảm về số lượng nhưng tính chất, mức độ vẫn còn diễn biến phức tạp. Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Rạch giá đã kiểm sát việc Cơ quan điều tra Công an cùng cấp khởi tố mới 264 vụ 416 bị can. Trong đó, tội phạm có liên quan đến hành vi đánh bạc vẫn còn xảy ra nhiều trên địa bàn thành phố với phương thức và thủ đoạn hoạt động tinh vi, nguy hiểm hơn. Cụ thể, Cơ quan điều tra Công an cùng cấp đã khởi tố mới 17 vụ 113 bị can (trong đó 06 vụ 52 bị can tội Tổ chức đánh bạc và gá bạc, 11 vụ 61 bị can tội Đánh bạc).
 


 
Đăng vào lúc: 15:36 24/09/2013
Thực hiện Kế hoạch số 03-KH/BCSĐ ngày 11/6/2013 của Ban Cán sự Đảng VKSND tối cao về xây dựng kế hoạch sơ kết 05 năm thực hiện Chỉ thị số 21-CT/TW ngày 26/3/2008 của Bộ Chính trị (Chỉ thị 21-CT/TW) về tiếp tục tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo công tác phòng, chống và kiểm soát ma túy trong tình hình mới. Trên cơ sở chức năng nhiệm vụ và tình hình thực tế của đơn vị, địa phương, VKSND tỉnh Kiên Giang sơ kết 05 năm (từ 01/6/2008 đến 31/5/2013) thực hiện Chỉ thị số 21-CT/TW của Bộ Chính trị như sau:..

 
Đăng vào lúc: 15:21 25/09/2013
Vừa qua, Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh đã phối hợp với Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang tiến hành kiểm tra, rà soát 16 trường hợp hồ sơ đề nghị xét đặc xá đợt 2/9 năm 2013 đối với 16 bị án đang được hoãn, tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù trong toàn tỉnh Kiên Giang, có đủ điều kiện, tiêu chuẩn đề nghị xét đặc xá miễn chấp hành hình phạt tù theo quy định tại Quyết định số 1251/2013/QĐ-CTN ngày 20/7/2013 của Chủ tịch nước.

 
Đăng vào lúc: 10:16 29/10/2014
Công ước Luật Biển của Liên hợp quốc 1982 (gọi tắt là Công ước 1982) là kết quả của Hội nghị Luật biển lần thứ III của Liên hợp quốc, kéo dài từ năm 1973 đến năm 1982 nhằm xây dựng một trật tự pháp lí quốc tế mới về biển và đại dương. Được coi là “Hiến pháp về biển và đại dương”, Công ước 1982 quy định một cách toàn diện các quyền và nghĩa vụ của tất cả các quốc gia (có biển, không có biển, bất lợi về mặt địa lí…)

 
Đăng vào lúc: 09:39 30/10/2014
Giải quyết tranh chấp được thừa nhận là một trong những bước phát triển quan trọng nhất trong việc giải quyết tranh chấp quốc tế kể từ khi thông qua Hiến chương Liên hợp quốc và Quy chế của Tòa án quốc tế. Hệ thống giải quyết tranh chấp trong Công ước 1982 được xây dựng với mục tiêu bảo vệ và duy trì trật tự pháp lí quốc tế mới về biển và đại dương khỏi những giải thích và vận dụng đơn phương có thể dẫn đến việc phá vỡ trật tự pháp lí này thông qua...

 
Đăng vào lúc: 15:48 08/09/2015
Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang vừa có cáo trạng truy tố các bị can Trần Hen, Tô Thị Kỳ Trân về tội “Tham ô tài sản"; Nguyễn Văn Dũng, Lê Thị Hạnh, Nguyễn Thị Hoàng Thơm về tội “Cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng”; Nguyễn Thị Dung Hương về tội “Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng". Ngoài ra bị can Nguyễn Văn Dũng còn bị truy tố về tội “Lợi dụng chức vụ quyền hạn trong khi thi hành công vụ”. Vụ án xảy ra tại Bệnh viện đa khoa huyện Vĩnh Thuận, tỉnh Kiên Giang.

 
Đăng vào lúc: 16:23 12/05/2016
Ngày 06/4/2016, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao đã ban hành Quyết định số 220/QĐ-CA về việc công bố án lệ. Dưới đây là 06 án lệ đã được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua.

 
 
VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG
Địa chỉ: Số 573 Nguyễn Trung Trực, P. An Hòa, TP. Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang
Chịu trách nhiệm: ông Lê Văn Dương - Phó Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang.
Email: bbt.vkskiengiang@gmail.com     Ðiện thoại: 0297. 3811869     Fax: 0297. 3811873