Thứ Hai, 19/4/2021

Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải được hiểu là có mấy tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự
Vào lúc: 08:55 23/12/2020   Mã TL: 4   Mã tin: 3580

Khi quyết định hình phạt, Tòa án căn cứ vào quy định của Bộ luật Hình sự, cân nhc tính chất và mức độ nguy him cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự[1].

Tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định trong Bộ luật Hình sự, trong các văn bản hướng dẫn áp dụng pháp luật hoặc do Hội đồng xét xử cân nhắc, xem xét quyết định trong quá trình xét xử nhằm đảm bảo việc cải tạo, giáo dục người phạm tội, góp phần bảo đảm thực hiện nguyên tắc công bằng, nguyên tắc nhân đạo, nguyên tắc bình đẳng và bảo đảm quyền con người; thể hiện chính sách khoan hồng, nhân đạo của Đảng và Nhà nước đối với người phạm tội.

Các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự có ý nghĩa rất quan trọng trong việc xử lý trách nhiệm hình sự, là cơ sở pháp lý để Hội đồng xét xử đánh giá đúng tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội trong việc quyết định hình phạt đối với người thực hiện hành vi phạm tội vì đây là một trong những căn cứ để Hội đồng xét xử quyết định hình phạt. Bên cạnh đó, trước khi kết thúc điều tra đề nghị truy tố, Cơ quan điều tra ban hành bản kết luận điều tra cũng phải căn cứ vào tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự khi đề nghị truy tố, đồng thời cũng là cơ sở để Viện Kiểm sát ghi nhận khi ban hành Cáo trạng và cũng là tiền đề đề nghị Hội đồng xét xử định tội và quyết định hình phạt.

 Nhận thức đúng đắn và áp dụng thống nhất các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự luôn là đòi hỏi tính khách quan trong quá trình xét xử đối với người thực hiện hành vi phạm tội trong từng vụ án cụ thể. Việc nhận thức và áp dụng không đúng các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự dẫn đến quyết định hình phạt không phù hợp với hành vi phạm tội, làm ảnh hưởng đến nguyên tắc bình đẳng, nguyên tắc công bằng, nguyên tắc nhân đạo của Nhà nước ta và nhất là không đảm bảo quyền con người. Tuy nhiên, việc áp dụng các tình tiết giảm nhẹ gặp nhiều khó khăn, do hiện nay chưa có văn bản hướng dẫn áp dụng, mỗi địa phương, mỗi ngành hướng dẫn áp dụng chưa thống nhất, có nhiều ý kiến, quan điểm áp dụng khác nhau, dẫn đến còn nhiều bất cập. Trong đó, có những quy định mới cần được hướng dẫn cụ thể để áp dụng thống nhất, góp phần thực hiện đúng nguyên tắc xử lý và căn cứ quyết định hình phạt.

Từ khi Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 (Bộ luật Hình sự hiện hành) có hiệu lực pháp luật đến nay, chưa có văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn cụ thể Điều 51 và 54 Bộ luật Hình sự hiện hành quy định về tình tiết giảm nhẹ và quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng, dẫn đến phát sinh bất cập, vướng mắc trong quá trình áp dụng thực hiện tại địa phương khi quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt.

          - Vướng mắc trong việc xác định số lượng tình tiết “người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Ngày 01/02/1999, Tòa án nhân dân tối cao (TANDTC) ban hành Công văn số 16/1999/KHXX giải đáp về một số vấn đề về hình sự, dân sự, kinh tế, lao động, hành chính và tố tụng (Công văn số 16/1999). Trong đó, tại Điểm 8 của Công văn số 16/1999, TANDTC giải đáp như sau: “Trường hợp bị cáo có nhiều tình Tiết giảm nhẹ quy định tại cùng một Điểm thuộc Khoản 1 Điều 38 Bộ luật hình sự, thì có được coi là có nhiều tình tiết giảm nhẹ hay không? Trường hợp bị cáo có nhiều tình tiết tăng nặng quy định tại cùng một Điểm thuộc Khoản 1 Điều 39 Bộ luật hình sự, thì có được coi là có nhiều tình tiết tăng nặng hay không?

Nghiên cứu các quy định tại Khoản 1 Điều 38 Bộ luật hình sự, cũng như thực tiễn xét xử của Toà án, thì chúng ta cũng phải coi trong trường hợp bị cáo có nhiều tình Tiết giảm nhẹ quy định tại cùng một Điểm thuộc Khoản 1 Điều 38 Bộ luật hình sự (như phạm tội mà chưa gây thiệt hại; phạm tội lần đầu...) là có nhiều tình Tiết giảm nhẹ để xem xét khi quyết định hình phạt và có thể áp dụng Khoản 3 Điều 38 Bộ luật hình sự. Cũng tương tự như vậy, chúng ta cũng phải coi trong trường hợp bị cáo có nhiều tình Tiết tăng nặng quy định tại cùng một Điểm thuộc Khoản 1 Điều 39 Bộ luật hình sự (như phạm tội có tổ chức; xúi giục người chưa thành niên phạm tội) là có nhiều tình Tiết tăng nặng để xem xét khi quyết định hình phạt”.

Hiện nay chưa có văn bản hướng dẫn, giải đáp về hình sự có nội dung thay thế nội dung này. Vậy, theo nội dung hướng dẫn của Công văn số 16/1999 tình tiết “người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” phải được hiểu là có 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, mặc dù không khẳng định số lượng là bao nhiêu tình tiết giảm nhẹ.

Ngành Kiểm sát nhân dân cũng có những hướng dẫn áp dụng như sau:

+ Ngày 09/4/2012, Vụ 3 Viện Kiểm sát nhân dân tối cao (VKSNDTC) ban hành Công văn số 994/VKSTC-V3 (Công văn số 994) hướng dẫn áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trong Bộ luật Hình sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009. Tại Điểm 2 của Công văn về tình tiết “người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” (điểm p, khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự): “Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là hai khái niệm có nội dung khác nhau, cụ thể: Thành khẩn khai báo là không khai gian dối một điều gì có liên quan đến hành vi phạm tội; ăn năn hối cải là trường hợp sau khi phạm tội, người phạm tội cảm thấy bị cắn rứt, giày vò lương tâm về những việc mình làm, hối hận và muốn sửa chữa sai lầm. Vậy, theo nội dung hướng dẫn của Công văn số 994, hướng dẫn rõ tình tiết “người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” có 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.

+ Tuy nhiên, ngày 10/4/2018, VKSNDTC ban hành Công văn số 1394/VKSTC-V7 (Công văn số 1394) về việc trả lời thỉnh thị áp dụng pháp luật, trả lời Công văn số 05/BC-VKS ngày 08/02/2018 của Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Nam với nội dung như sau: “Điểm p Khoản 1 Điều 46 BLHS năm 1999 (điểm s Khoản 1 Điều 51 BLHS năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017) sử dụng dấu “phẩy” giữa tình tiết “thành khẩn khai báo” và “ăn năn hối cải”. Với cách quy định này cần hiểu người phạm tội chỉ cần thỏa mãn một trong hai điều kiện “thành khẩn khai báo” hoặc “ăn năn hối cải” hoặc có cả hai điều kiện này thì cũng chỉ được áp dụng một tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự”. Vậy, nội dung Công văn số 1394 hướng dẫn vận dụng Bộ luật Hình sự hiện hành về tình tiết người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” chỉ có 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Sự khác nhau giữa 02 văn bản là: Công văn số 994 hướng dẫn số lượng tình tiết giảm nhẹ dựa vào khái niệm nội dung câu chữ của luật, đối với Công văn số 1394 dựa vào dấu “phẩy” để xác định số lượng tình tiết giảm nhẹ. Cả hai Công văn này đều tồn tại để hướng dẫn nghiệp vụ, không mang tính văn bản ra đời sau thay thế cho văn bản ra đời trước đó, cũng không bị bãi bỏ.

Ngày 13/9/2019, TANDTC ban hành Công văn số 112/TANDTC-PC về việc thông báo kết quả giải đáp trực tuyến một số vướng mắc trong xét xử. Tại điểm 3 của Công văn có nội dung giải thích khái niệm như sau: “Tình tiết người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” được hiểu là trường hợp người phạm tội thành khẩn khai nhận về hành vi phạm tội của mình, ăn năn hối lỗi về việc mình đã gây ra”. Do đó, việc giải đáp nghiệp vụ của TANDTC một lần nữa hướng dẫn nghiệp vụ căn cứ vào nội dung câu chữ của luật để áp dụng.

Với những hướng dẫn như trên, thực tiễn công tác thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử và xét xử của Tòa án đối chiếu các văn bản hướng dẫn của TANDTC và VKSNDTC nhận thấy có sự mâu thuẫn trong việc hướng dẫn tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”. Do có sự không thống nhất giữa các văn bản hướng dẫn nên quá trình áp dụng pháp luật sẽ nhận thức và áp dụng không thống nhất khi hiểu là có một hay hai tình tiết giảm nhẹ.

Quan điểm của tác giả thống nhất với nội dung hướng dẫn của Công văn số 994 bởi những căn cứ sau:

          + Theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 3 Bộ luật Hình sự về nguyên tắc xử lý đối với người phạm tội, phân biệt rạch ròi giữa cụm từ “thành khẩn khai báo” với “ăn năn hối cải”.

Cụ thể về nguyên tắc xử lý đối với người phạm tội như sau: “Nghiêm trị người phạm tội dùng thủ đoạn xảo quyệt, có tổ chức, có tính chất chuyên nghiệp, cố ý gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng. Khoan hồng đối với người tự thú, đầu thú, thành khẩn khai báo, tố giác đồng phạm, lập công chuộc tội, tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm trong việc phát hiện tội phạm hoặc trong quá trình giải quyết vụ án, ăn năn hối cải, tự nguyện sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại gây ra”. Hai nội dung hoàn toàn khác nhau, nằm cách nhau đến 03 nội dung độc lập, không phải cùng một nội dung gắn kết hay có mối quan hệ với nhau. Điều đó, cho thấy, mỗi một câu được ngăn cách bởi dấu “phẩy” là một nội dung hoàn toàn khác nhau. Việc xử lí người phạm tội phải áp dụng nguyên tắc này, được xem là nguyên tắc pháp chế trong Hình sự, là sợi chỉ “đỏ” xuyên suốt khi quyết định hình phạt là toàn bộ tinh thần của quy định, với kết quả cuối cùng là có lợi cho người bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

+ Áp dụng dựa vào dấu “phẩy” để xác định số lượng tình tiết giảm nhẹ hoặc tăng nặng thì chưa đảm bảo tính phù hợp. Bởi lẽ, theo quy định tại điểm i, k, l khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự hiện hành có rất nhiều tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được sử dụng dấu “phẩy” ở giữa các tình tiết tăng nặng.

Ví dụ: theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự hiện hành có đến 03 tình tiết tăng nặng như sau: “Phạm tội đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ có thai hoặc người đủ 70 tuổi trở lên”.  Cùng một điểm, khoản của Điều luật, thỏa một điều kiện bởi dấu “phẩy” và chữ “hoặc” là một tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, qua đó cho thấy dấu “phẩy”, chữ “hoặc” điều có ý nghĩa, nội dung như nhau, do cách dùng từ. Biện luận dựa trên nguyên tắc áp dụng tương tự pháp luật[2], đều cùng là dấu “phẩy”, nội dung câu chữ, khái niệm khác nhau, có nhiều tình tiết khác nhau thì phải được áp dụng giống nhau: áp dụng tương tự cho điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự hiện hành, thỏa 01 điều kiện là 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; thỏa 02 điều kiện là 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.

+ Áp dụng dựa vào nội dung câu chữ của luật, thì toàn bộ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự chỉ có duy nhất chữ “và” theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự hiện hành như sau: “Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng” mới được xem là một tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, còn lại tất cả các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự không có điểm nào tại Điều 51 Bộ luật Hình sự sử dụng từ “và” cho các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự khác. Bắt buộc phải thỏa mãn điều kiện cần và đủ.

+ Căn cứ để quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt theo quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự hiện hành: “Tòa án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng nhưng phải trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của điều luật khi người phạm tội có ít nhất hai tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật này”. Phân tích câu chữ Điều luật dùng từ “hai tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51”, tức là không phụ thuộc có mấy điểm của khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự hiện hành, câu chữ của luật không dùng từ hai tình tiết giảm nhẹ theo quy định hai điểm của khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Tiếp tục biện luận dựa trên phương pháp suy lý mạnh[3] là luật không quy định rành mạch, nhưng cần phải được thừa nhận, bởi những lý lẽ này làm cơ sở vững chắc và phù hợp với ý chí của nhà làm luật.   

Để tháo gỡ khó khăn, vướng mắc và đảm bảo cho việc áp dụng pháp luật thống nhất trong toàn ngành tư pháp, đề xuất liên ngành tư pháp Trung ương sớm ban hành văn bản hướng dẫn cụ thể như thế nào được xem là có hai tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự khi áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự hiện hành.

          H.Nghị
(VKSND huyện U Minh Thượng)



[1] Khoản 1 Điều 50 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

[2], 3 Viện sĩ, PGS.TS Nguyễn Ngọc Điện: Phương pháp phân tích luật viết, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia sự thật, năm 2019, trang 118-119, 121.

 





 
Đăng vào lúc: 08:17 14/04/2021
Những tháng đầu năm 2021, tình hình dịch bệnh Covid – 19 diễn biến phức tạp, một số người Việt Nam sinh sống và làm việc ở Campuchia, trong đó có người nước ngoài, mong muốn nhập cảnh vào Việt Nam nhưng lại không muốn bị đưa vào khu cách ly tập trung nên tìm cách nhập cảnh vào Việt Nam trái phép tại các địa bàn giáp biên giới đường bộ và đường biển (tuyến biên giới Tây nam, Việt Nam - Campuchia) như: thành phố Hà Tiên, Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang. Đây là điều kiện thuận lợi để cho các đối tượng ở trong và ngoài nước chuyên môi giới để trục lợi, tổ chức cho người khác xuất cảnh, nhập cảnh hoặc ở lại Việt Nam trái phép hoạt động mạnh hơn.

 
Đăng vào lúc: 08:07 14/04/2021
Thực hiện Quyết định số 108/QĐ-VKS và Kế hoạch số 109/KH-VKS ngày 24/3/2021 của Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân huyện Kiên Hải về trực tiếp kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố (gọi tắt là nguồn tin về tội phạm). Sáng ngày 09/4/2021, Đoàn Kiểm sát do đồng chí Phạm Đình Chiến - Phó Viện trưởng làm Trưởng đoàn tiến hành trực tiếp kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm tại Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Kiên Hải.

 
Đăng vào lúc: 13:54 08/04/2021
Đề ra yêu cầu kiểm tra, xác minh nguồn tin về tội phạm (tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố) là một trong những quyền năng quan trọng của Viện Kiểm sát, thẩm quyền cơ bản này được giao cho Kiểm sát viên được phân công thực hành quyền công tố, kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm. Bản yêu cầu, kiểm tra xác minh thể hiện ý chí, quan điểm của Kiểm sát viên trong quá trình kiểm sát việc giải quyết nguồn tin về tội phạm, thể hiện năng lực, trình độ, bản lĩnh, nắm chắc hồ sơ vụ việc và bám sát tiến độ kiểm tra, xác minh của Kiểm sát viên trong việc yêu cầu thu thập chứng cứ, được lưu vào hồ sơ nguồn tin về tội phạm và hồ sơ kiểm sát...

 
Đăng vào lúc: 08:09 07/04/2021
Ngày 01/4/2021, Viện Kiểm sát nhân dân (VKSND) tỉnh tổ chức Lễ công bố và trao Quyết định bổ nhiệm Kiểm sát viên trung cấp, sơ cấp. Chủ trì buổi lễ ông Nguyễn Ngọc Phúc- Tỉnh ủy viên, Bí thư Ban Cán sự Đảng, Viện trưởng tỉnh; dự lễ còn có các Phó Viện trưởng VKSND tỉnh; Thủ trưởng các đơn vị VKSND tỉnh, Lãnh đạo VKSND cấp huyện và các Kiểm sát viên trung cấp, Kiểm sát viên sơ cấp được nhận Quyết định bổ nhiệm chức danh Kiểm sát viên.

 
Đăng vào lúc: 14:36 31/03/2021
Vừa Chi đoàn Liên ngành huyện Kiên Lương đã phân công đoàn viên tham gia hưởng ứng hoạt động “Ngày thứ 7 tình nguyện”, hướng dẫn thủ tục hồ sơ và cấp thẻ căn cước công dân cho người dân trên địa bàn huyện.

 
Đăng vào lúc: 13:54 18/03/2021
Trong năm 2020, tình hình tội phạm trên địa bàn thành phố Rạch Giá tuy có chiều hướng giảm về số lượng nhưng tính chất, mức độ vẫn còn diễn biến phức tạp. Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Rạch giá đã kiểm sát việc Cơ quan điều tra Công an cùng cấp khởi tố mới 264 vụ 416 bị can. Trong đó, tội phạm có liên quan đến hành vi đánh bạc vẫn còn xảy ra nhiều trên địa bàn thành phố với phương thức và thủ đoạn hoạt động tinh vi, nguy hiểm hơn. Cụ thể, Cơ quan điều tra Công an cùng cấp đã khởi tố mới 17 vụ 113 bị can (trong đó 06 vụ 52 bị can tội Tổ chức đánh bạc và gá bạc, 11 vụ 61 bị can tội Đánh bạc).
 


 
Đăng vào lúc: 15:36 24/09/2013
Thực hiện Kế hoạch số 03-KH/BCSĐ ngày 11/6/2013 của Ban Cán sự Đảng VKSND tối cao về xây dựng kế hoạch sơ kết 05 năm thực hiện Chỉ thị số 21-CT/TW ngày 26/3/2008 của Bộ Chính trị (Chỉ thị 21-CT/TW) về tiếp tục tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo công tác phòng, chống và kiểm soát ma túy trong tình hình mới. Trên cơ sở chức năng nhiệm vụ và tình hình thực tế của đơn vị, địa phương, VKSND tỉnh Kiên Giang sơ kết 05 năm (từ 01/6/2008 đến 31/5/2013) thực hiện Chỉ thị số 21-CT/TW của Bộ Chính trị như sau:..

 
Đăng vào lúc: 15:21 25/09/2013
Vừa qua, Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh đã phối hợp với Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang tiến hành kiểm tra, rà soát 16 trường hợp hồ sơ đề nghị xét đặc xá đợt 2/9 năm 2013 đối với 16 bị án đang được hoãn, tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù trong toàn tỉnh Kiên Giang, có đủ điều kiện, tiêu chuẩn đề nghị xét đặc xá miễn chấp hành hình phạt tù theo quy định tại Quyết định số 1251/2013/QĐ-CTN ngày 20/7/2013 của Chủ tịch nước.

 
Đăng vào lúc: 10:16 29/10/2014
Công ước Luật Biển của Liên hợp quốc 1982 (gọi tắt là Công ước 1982) là kết quả của Hội nghị Luật biển lần thứ III của Liên hợp quốc, kéo dài từ năm 1973 đến năm 1982 nhằm xây dựng một trật tự pháp lí quốc tế mới về biển và đại dương. Được coi là “Hiến pháp về biển và đại dương”, Công ước 1982 quy định một cách toàn diện các quyền và nghĩa vụ của tất cả các quốc gia (có biển, không có biển, bất lợi về mặt địa lí…)

 
Đăng vào lúc: 09:39 30/10/2014
Giải quyết tranh chấp được thừa nhận là một trong những bước phát triển quan trọng nhất trong việc giải quyết tranh chấp quốc tế kể từ khi thông qua Hiến chương Liên hợp quốc và Quy chế của Tòa án quốc tế. Hệ thống giải quyết tranh chấp trong Công ước 1982 được xây dựng với mục tiêu bảo vệ và duy trì trật tự pháp lí quốc tế mới về biển và đại dương khỏi những giải thích và vận dụng đơn phương có thể dẫn đến việc phá vỡ trật tự pháp lí này thông qua...

 
Đăng vào lúc: 15:48 08/09/2015
Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang vừa có cáo trạng truy tố các bị can Trần Hen, Tô Thị Kỳ Trân về tội “Tham ô tài sản"; Nguyễn Văn Dũng, Lê Thị Hạnh, Nguyễn Thị Hoàng Thơm về tội “Cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng”; Nguyễn Thị Dung Hương về tội “Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng". Ngoài ra bị can Nguyễn Văn Dũng còn bị truy tố về tội “Lợi dụng chức vụ quyền hạn trong khi thi hành công vụ”. Vụ án xảy ra tại Bệnh viện đa khoa huyện Vĩnh Thuận, tỉnh Kiên Giang.

 
Đăng vào lúc: 16:23 12/05/2016
Ngày 06/4/2016, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao đã ban hành Quyết định số 220/QĐ-CA về việc công bố án lệ. Dưới đây là 06 án lệ đã được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua.

 
 
VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG
Địa chỉ: Số 573 Nguyễn Trung Trực, P. An Hòa, TP. Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang
Chịu trách nhiệm: ông Lê Văn Dương - Phó Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang.
Email: bbt.vkskiengiang@gmail.com     Ðiện thoại: 0297. 3811869     Fax: 0297. 3811873