Thứ Hai, 19/4/2021

Những nội dung đáng chú ý của Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án
Vào lúc: 10:56 30/12/2020   Mã TL: 4   Mã tin: 3584
Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án đã chính thức được Quốc hội thông qua ngày 16/6/2020 gồm 4 chương, 42 Điều. Luật này quy định nguyên tắc, chính sách của Nhà nước về hòa giải, đối thoại tại Tòa án; quyền, nghĩa vụ của Hòa giải viên tại Tòa án, các bên tham gia hòa giải, đối thoại tại Tòa án; trách nhiệm của Tòa án trong hoạt động hòa giải, đối thoại; trình tự, thủ tục hòa giải, đối thoại và công nhận kết quả hòa giải thành, đối thoại thành tại Tòa án; Hòa giải, đối thoại theo quy định của Luật này được thực hiện trước khi Tòa án thụ lý vụ án về tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động; việc yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn; vụ án hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, trong đó có 6 nội dung đáng chú ý như sau:
1/ Hòa giải, đối thoại tại Tòa án là gì?
Hòa giải tại Tòa án là hoạt động hòa giải do Hòa giải viên tiến hành trước khi Tòa án thụ lý vụ việc dân sự nhằm hỗ trợ các bên thỏa thuận giải quyết vụ việc dân sự theo quy định (khoản 2 Điều 2 Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án).
Trong khi đó, đối thoại tại Tòa án là hoạt động đối thoại do Hòa giải viên tiến hành trước khi Tòa án thụ lý vụ án hành chính nhằm hỗ trợ các bên thống nhất giải quyết khiếu kiện hành chính (khoản 3 Điều 2 Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án).
Nếu các bên thông qua hòa giải hoặc đối thoại, tự nguyện thỏa thuận về việc giải quyết một phần hoặc toàn bộ vụ việc dân sự hoặc tự nguyện thống nhất về việc giải quyết một phần hoặc toàn bộ khiếu kiện hành chính thì được coi là hòa giải thành và đối thoại thành.
Như vậy, có thể thấy, hòa giải thành áp dụng với các vụ việc dân sự còn đối thoại là hoạt động áp dụng với các vụ kiện hành chính.
2/ Không được ghi âm, ghi hình trong quá trình hòa giải, đối thoại
Một trong những nguyên tắc quan trọng khi hòa giải, đối thoại là phải giữ bí mật các thông tin liên quan đến vụ việc hòa giải, đối thoại. Cụ thể, Điều 4 Luật này nêu rõ:
Trong quá trình hòa giải, đối thại không được ghi âm, ghi hình, ghi biên bản hòa giải, đối thoại.
Việc lập biên bản chỉ được thực hiện để ghi nhận kết quả hòa giải, đối thoại và việc ghi chép chỉ phục vụ cho việc hòa giải, đối thoại cũng như những nội dung đã ghi chép cũng phải được bảo mật.
Đồng thời, Hòa giải viên, các bên tham gia, cơ quan, tổ chức, cá nhân khác được mời tham gia cũng không được tiết lộ thông tin mà mình biết được trong quá trình hòa giải, đối thoại trừ trường hợp được sự đồng ý của các bên cung cấp thông tin.
Ngoài ra, trong hòa giải, đối thoại, các bên phải tuyệt đối tự nguyện cũng như phải tôn trọng sự tự nguyện thỏa thuận, thống nhất của các bên, không được ép buộc các bên thỏa thuận, thống nhất trái với ý chí của họ.
Đặc biệt, giữa các bên tham gia hòa giải, đối thoại cũng phải được bảo đảm quyền bình đẳng.
3/ Ba loại chi phí các bên tham gia hòa giải phải chịu
Mặc dù hòa giải, đối thoại là hình thức được Nhà nước khuyến khích các bên áp dụng và đảm bảo kinh phí từ ngân sách Nhà nước cũng như từ các nguồn kinh phí hợp pháp khác nhưng Điều 9 Luật này cũng quy định các khoản chi phí các bên tham gia hòa giải, đối thoại tại Tòa án phải nộp gồm:
- Pháp nhân, cá nhân nộp đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp về kinh doanh, thương mại có giá ngạch;
- Chi phí phiên dịch tiếng nước ngoài;
- Chi phí phát sinh khi tiến hành hòa giải, đối thoại khi các bên thống nhất chọn địa điểm hòa giải, đối thoại ngoài trụ sở Tòa án; Chi phí Hòa giải viên xem xét hiện trạng tài sản nằm ngoài phạm vi lãnh thổ của tỉnh nơi Tòa án có thẩm quyền giải quyết có trụ sở, trước khi Hòa giải viên lập biên bản ghi nhận kết quả hòa giải thành, đối thoại thành.
Như vậy, ngoài 03 khoản chi phí phát sinh thêm mà các bên tham gia hòa giải, đối thoại phải chịu thì toàn bộ các chi phí còn lại liên quan đến việc hòa giải, đối thoại tại Tòa án sẽ do ngân sách Nhà nước bảo đảm. 
4/ Không được bổ nhiệm cán bộ, công chức làm Hòa giải viên
Khoản 2 Điều 10 Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án nêu rõ điều kiện để được bổ nhiệm Hòa giải viên gồm:
- Đã là Thẩm phán, Thẩm tra viên, Thư ký Tòa án, Kiểm sát viên, Kiểm tra viên Viện kiểm sát, Chấp hành viên Thi hành án dân sự, Thẩm tra viên trước khi nghỉ hưu; luật sư, chuyên gia, nhà chuyên môn khác có ít nhất 10 năm kinh nghiệm trong lĩnh vực công tác, hiểu biết về phong tục tập quán, có uy tín trong cộng đồng dân cư;
- Là công dân Việt Nam, thường trú tại Việt Nam, trung thành với Tổ quốc và Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;
- Có năng lực hành vi dân sự đầy đủ; có phẩm chất đạo đức tốt, gương mẫu trong việc chấp hành pháp luật;
- Có sức khỏe bảo đảm hoàn thành nhiệm vụ được giao;
- Có kinh nghiệm, kỹ năng hòa giải, đối thoại;
- Tự nguyện thực hiện nhiệm vụ hòa giải, đối thoại;
- Có chứng chỉ bồi dưỡng nghiệp vụ hòa giải, đối thoại của Tòa án.
Đặc biệt, khoản 2 Điều này nêu rõ các trường hợp không đủ điều kiện nêu trên thì không được bổ nhiệm làm Hòa giải viên. Đồng thời cũng khẳng định người đang là cán bộ, công chức, viên chức, sĩ quan, hạ sĩ quan... trong Quân đội, Công an cũng không được bổ nhiệm làm Hòa giải viên.
Để được bổ nhiệm Hòa giải viên, những đối tượng đạt yêu cầu phải chuẩn bị các giấy tờ cần thiết như:
- Đơn đề nghị;
- Sơ yếu lý lịch có xác nhận của cơ quan có thẩm quyền;
- Phiếu lý lịch tư pháp;
- Giấy chứng nhận sức khỏe do cơ quan y tế có thẩm quyền cấp;
- Bản sao có chứng thực giấy tờ chứng minh là Thẩm phán, Thẩm tra viên, Thư ký Tòa án… đã nghỉ hưu; luật sư, chuyên gia, nhà chuyên môn khác có ít nhất 10 năm kinh nghiệm trong lĩnh vực công tác…
Trong thời hạn 20 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ đề nghị bổ nhiệm, Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh xem xét, quyết định bổ nhiệm. Nếu từ chối sẽ thông báo bằng văn bản nêu rõ lý do.
Đáng lưu ý: Nhiệm kỳ của Hòa giải viên là 03 năm kể từ ngày được bổ nhiệm. 
5/ Bảy trường hợp không thể tiến hành hòa giải, đối thoại
Điều 19 Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án nêu rõ những trường hợp không tiến hành hòa giải, đối thoại gồm:
- Yêu cầu đòi bồi thường do gây thiệt hại đến tài sản của Nhà nước;
- Những vụ việc phát sinh từ giao dịch dân sự vi phạm điều cấm của luật hoặc trái đạo đức xã hội;
- Người khởi kiện, bị kiện… đã được mời tham gia hòa giải, đối thoại hợp lệ lần 2 nhưng vẫn vắng mặt không vì lý do bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan hoặc không thể tham gia vì lý do chính đáng;
- Một bên vợ hoặc chồng trong tranh chấp ly hôn là người mất năng lực hành vi dân sự;
- Một trong các bên đề nghị không hòa giải, đối thoại;
- Một trong các bên yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời;
- Trường hợp khác theo quy định của pháp luật.
Như vậy, có thể thấy, theo quy định trên có 07 trường hợp sẽ không thể tiến hành hòa giải, đối thoại tại Tòa án.
6/ Trình tự, thủ tục và công nhận kết quả hòa giải, đối thoại
Để nhận được Quyết định công nhận kết quả hòa giải, đối thoại, các bên phải tiến hành theo trình tự, thủ tục gồm các bước sau:
Bước 1: Nhận, xử lý đơn khởi kiện, đơn yêu cầu và chỉ định Hòa giải viên
Trong bước này, người khởi kiện, người yêu cầu gửi đơn đến Tòa án có thẩm quyền kèm theo tài liệu, chứng cứ. Sau đó, nếu đủ điều kiện để được hòa giải thì Tòa án sẽ phân công Thẩm phán phụ trách hòa giải, đối thoại, chỉ định Hòa giải viên…
Bước 2: Chuẩn bị hòa giải, đối thoại
Để thực hiện hòa giải, đối thoại, Hòa giải viên phải chuẩn bị: Tiếp nhận và nghiên cứu đơn, tài liệu gửi kèm do Tòa án chuyển đến; Vào sổ theo dõi vụ việc; Xác định tư cách của người tham gia hòa giải, đối thoại; Xây dựng phương án hòa giải, đối thoại…
Bước 3: Tiến hành phiên hòa giải, đối thoại
Khi các bên đồng ý gặp nhau để thống nhất phương án giải quyết vụ việc dân sự, khiếu kiện hành chính, Hòa giải viên ấn định thời gian, địa điểm tiến hành phiên hòa giải, đối thoại và thông báo cho các bên chậm nhất là 05 ngày trước ngày mở phiên hòa giải, đối thoại.
Trong phiên hòa giải sẽ gồm Hòa giải viên, các bên tham gia hòa giải, đối thoại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người đại diện của họ, người phiên dịch, người được mời tham gia hòa giải, đối thoại trong trường hợp cần thiết.
Phiên hòa giải, đối thoại được thực hiện theo trình tự sau:
- Hòa giải viên giới thiệu thành phần tham gia; trình bày nội dung cần hòa giải, đối thoại; diễn biến quá trình chuẩn bị hòa giải, đối thoại; quyền, nghĩa vụ của mình…
- Người yêu cầu, khởi kiện hoặc người đại diện của họ trình bày nội dung yêu cầu, khởi kiện, đề xuất quan điểm những vấn đề cần hòa giải, đối thoại và hướng giải quyết (nếu có);
- Hòa giải viên hỗ trợ các bên tham gia hòa giải, đối thoại trao đổi ý kiến, trình bày các nội dung chưa rõ, đi đến thỏa thuận, thống nhất giải quyết tranh chấp, khiếu nại;
- Kết luận về những vấn đề các bên đã thống nhất, chưa thống nhất.
Bước 4: Tiến hành phiên họp ghi nhận kết quả hòa giải, đối thoại
Khi các bên đạt được sự thỏa thuận, thống nhất với nhau thì Hòa giải viên ấn định thời gian, địa điểm mở phiên họp ghi nhận kết quả hòa giải, đối thoại.
Phiên họp này được tổ chức ngay sau phiên hòa giải, đối thoại hoặc vào thời gian phù hợp khác ở trụ sở Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ việc. Tại đó, Thẩm phán tham gia phiên họp ký xác nhận biên bản ghi nhận kết quả hòa giải, đối thoại.
Bước 5: Ra quyết định công nhận kết quả hòa giải thành, đối thoại thành
Sau khi lập biên bản ghi nhận kết quả hòa giải, đối thoại, Hòa giải viên chuyển biên bản cùng tài liệu kèm theo cho Tòa án để ra quyết định công nhận kết quả hòa giải thành, đối thoại thành trong trường hợp các bên có yêu cầu.
Khi đó, nếu đủ điều kiện thì Thẩm phán ra quyết định. Ngược lại, nếu không đủ điều kiện thì không ra quyết định và chuyển biên bản cũng như tài liệu kèm theo cho Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ việc theo thủ tục tố tụng dân sự, tố tụng hành chính.
Lưu ý: Quyết định công nhận kết quả hòa giải thành, đối thoại thành có hiệu lực thi hành ngay và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.
Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2021./.
Ngọc Thùy ( Giới thiệu)





 
Đăng vào lúc: 08:17 14/04/2021
Những tháng đầu năm 2021, tình hình dịch bệnh Covid – 19 diễn biến phức tạp, một số người Việt Nam sinh sống và làm việc ở Campuchia, trong đó có người nước ngoài, mong muốn nhập cảnh vào Việt Nam nhưng lại không muốn bị đưa vào khu cách ly tập trung nên tìm cách nhập cảnh vào Việt Nam trái phép tại các địa bàn giáp biên giới đường bộ và đường biển (tuyến biên giới Tây nam, Việt Nam - Campuchia) như: thành phố Hà Tiên, Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang. Đây là điều kiện thuận lợi để cho các đối tượng ở trong và ngoài nước chuyên môi giới để trục lợi, tổ chức cho người khác xuất cảnh, nhập cảnh hoặc ở lại Việt Nam trái phép hoạt động mạnh hơn.

 
Đăng vào lúc: 08:07 14/04/2021
Thực hiện Quyết định số 108/QĐ-VKS và Kế hoạch số 109/KH-VKS ngày 24/3/2021 của Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân huyện Kiên Hải về trực tiếp kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố (gọi tắt là nguồn tin về tội phạm). Sáng ngày 09/4/2021, Đoàn Kiểm sát do đồng chí Phạm Đình Chiến - Phó Viện trưởng làm Trưởng đoàn tiến hành trực tiếp kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm tại Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Kiên Hải.

 
Đăng vào lúc: 13:54 08/04/2021
Đề ra yêu cầu kiểm tra, xác minh nguồn tin về tội phạm (tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố) là một trong những quyền năng quan trọng của Viện Kiểm sát, thẩm quyền cơ bản này được giao cho Kiểm sát viên được phân công thực hành quyền công tố, kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm. Bản yêu cầu, kiểm tra xác minh thể hiện ý chí, quan điểm của Kiểm sát viên trong quá trình kiểm sát việc giải quyết nguồn tin về tội phạm, thể hiện năng lực, trình độ, bản lĩnh, nắm chắc hồ sơ vụ việc và bám sát tiến độ kiểm tra, xác minh của Kiểm sát viên trong việc yêu cầu thu thập chứng cứ, được lưu vào hồ sơ nguồn tin về tội phạm và hồ sơ kiểm sát...

 
Đăng vào lúc: 08:09 07/04/2021
Ngày 01/4/2021, Viện Kiểm sát nhân dân (VKSND) tỉnh tổ chức Lễ công bố và trao Quyết định bổ nhiệm Kiểm sát viên trung cấp, sơ cấp. Chủ trì buổi lễ ông Nguyễn Ngọc Phúc- Tỉnh ủy viên, Bí thư Ban Cán sự Đảng, Viện trưởng tỉnh; dự lễ còn có các Phó Viện trưởng VKSND tỉnh; Thủ trưởng các đơn vị VKSND tỉnh, Lãnh đạo VKSND cấp huyện và các Kiểm sát viên trung cấp, Kiểm sát viên sơ cấp được nhận Quyết định bổ nhiệm chức danh Kiểm sát viên.

 
Đăng vào lúc: 14:36 31/03/2021
Vừa Chi đoàn Liên ngành huyện Kiên Lương đã phân công đoàn viên tham gia hưởng ứng hoạt động “Ngày thứ 7 tình nguyện”, hướng dẫn thủ tục hồ sơ và cấp thẻ căn cước công dân cho người dân trên địa bàn huyện.

 
Đăng vào lúc: 13:54 18/03/2021
Trong năm 2020, tình hình tội phạm trên địa bàn thành phố Rạch Giá tuy có chiều hướng giảm về số lượng nhưng tính chất, mức độ vẫn còn diễn biến phức tạp. Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Rạch giá đã kiểm sát việc Cơ quan điều tra Công an cùng cấp khởi tố mới 264 vụ 416 bị can. Trong đó, tội phạm có liên quan đến hành vi đánh bạc vẫn còn xảy ra nhiều trên địa bàn thành phố với phương thức và thủ đoạn hoạt động tinh vi, nguy hiểm hơn. Cụ thể, Cơ quan điều tra Công an cùng cấp đã khởi tố mới 17 vụ 113 bị can (trong đó 06 vụ 52 bị can tội Tổ chức đánh bạc và gá bạc, 11 vụ 61 bị can tội Đánh bạc).
 


 
Đăng vào lúc: 15:36 24/09/2013
Thực hiện Kế hoạch số 03-KH/BCSĐ ngày 11/6/2013 của Ban Cán sự Đảng VKSND tối cao về xây dựng kế hoạch sơ kết 05 năm thực hiện Chỉ thị số 21-CT/TW ngày 26/3/2008 của Bộ Chính trị (Chỉ thị 21-CT/TW) về tiếp tục tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo công tác phòng, chống và kiểm soát ma túy trong tình hình mới. Trên cơ sở chức năng nhiệm vụ và tình hình thực tế của đơn vị, địa phương, VKSND tỉnh Kiên Giang sơ kết 05 năm (từ 01/6/2008 đến 31/5/2013) thực hiện Chỉ thị số 21-CT/TW của Bộ Chính trị như sau:..

 
Đăng vào lúc: 15:21 25/09/2013
Vừa qua, Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh đã phối hợp với Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang tiến hành kiểm tra, rà soát 16 trường hợp hồ sơ đề nghị xét đặc xá đợt 2/9 năm 2013 đối với 16 bị án đang được hoãn, tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù trong toàn tỉnh Kiên Giang, có đủ điều kiện, tiêu chuẩn đề nghị xét đặc xá miễn chấp hành hình phạt tù theo quy định tại Quyết định số 1251/2013/QĐ-CTN ngày 20/7/2013 của Chủ tịch nước.

 
Đăng vào lúc: 10:16 29/10/2014
Công ước Luật Biển của Liên hợp quốc 1982 (gọi tắt là Công ước 1982) là kết quả của Hội nghị Luật biển lần thứ III của Liên hợp quốc, kéo dài từ năm 1973 đến năm 1982 nhằm xây dựng một trật tự pháp lí quốc tế mới về biển và đại dương. Được coi là “Hiến pháp về biển và đại dương”, Công ước 1982 quy định một cách toàn diện các quyền và nghĩa vụ của tất cả các quốc gia (có biển, không có biển, bất lợi về mặt địa lí…)

 
Đăng vào lúc: 09:39 30/10/2014
Giải quyết tranh chấp được thừa nhận là một trong những bước phát triển quan trọng nhất trong việc giải quyết tranh chấp quốc tế kể từ khi thông qua Hiến chương Liên hợp quốc và Quy chế của Tòa án quốc tế. Hệ thống giải quyết tranh chấp trong Công ước 1982 được xây dựng với mục tiêu bảo vệ và duy trì trật tự pháp lí quốc tế mới về biển và đại dương khỏi những giải thích và vận dụng đơn phương có thể dẫn đến việc phá vỡ trật tự pháp lí này thông qua...

 
Đăng vào lúc: 15:48 08/09/2015
Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang vừa có cáo trạng truy tố các bị can Trần Hen, Tô Thị Kỳ Trân về tội “Tham ô tài sản"; Nguyễn Văn Dũng, Lê Thị Hạnh, Nguyễn Thị Hoàng Thơm về tội “Cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng”; Nguyễn Thị Dung Hương về tội “Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng". Ngoài ra bị can Nguyễn Văn Dũng còn bị truy tố về tội “Lợi dụng chức vụ quyền hạn trong khi thi hành công vụ”. Vụ án xảy ra tại Bệnh viện đa khoa huyện Vĩnh Thuận, tỉnh Kiên Giang.

 
Đăng vào lúc: 16:23 12/05/2016
Ngày 06/4/2016, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao đã ban hành Quyết định số 220/QĐ-CA về việc công bố án lệ. Dưới đây là 06 án lệ đã được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua.

 
 
VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG
Địa chỉ: Số 573 Nguyễn Trung Trực, P. An Hòa, TP. Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang
Chịu trách nhiệm: ông Lê Văn Dương - Phó Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang.
Email: bbt.vkskiengiang@gmail.com     Ðiện thoại: 0297. 3811869     Fax: 0297. 3811873