Thứ Tư, 30/11/2022
-*- Toàn ngành Kiểm sát Kiên Giang phát huy truyền thống “Nghiêm chỉnh tuân thủ pháp luật, kiên quyết tấn công tội phạm, bản lĩnh thực thi công lý, tận tâm bảo vệ nhân dân” -*-   

“Đòi lại tiền nạp tài tiệc cưới” dưới góc nhìn pháp luật
Vào lúc: 15:11 26/09/2022   Mã TL: 4   Mã tin: 4211

Từ xưa đến nay, theo phong tục cưới, hỏi phổ biến của người Việt Nam, “Tiền nạp tài cưới, hỏi”được xem là một trong những thủ tục trước lễ cưới, hỏi và đó là khoản tiền mà gia đình chú rể (họ nhà trai) đưa cho gia đình cô dâu (họ nhà gái) để hỗ trợ phần nào cho nhà gái chi phí tổ chức tiệc cưới hỏi được hiểu với mục đích là “để tổ chức hôn sự” cho hai con và số tiền này tùy thuộc vào hoàn cảnh, điều kiện của nhà trai. Tuy nhiên, vì đây là phong tục tập quán của địa phương dựa trên sự tự nguyện của hai bên gia đình, nên hiện nay pháp luật cũng chưa có quy định cụ thể về việc xử lý các trường hợp sử dụng số tiền nạp tài sai mục đích hoặc đã nhận tiền nạp tài mà không dùng để tổ chức tiệc cưới đúng theo thỏa thuận. Chính vì thế, khi có tranh chấp xảy ra, thường thì 02 bên gia đình sẽ tự thỏa thuận, giải quyết với nhau, nhưng gần đây đã xảy ra nhiều trường hợp đương sự phải khởi kiện tại Tòa án để giải quyết tranh chấp về số tiền trên. Do đó, dưới góc nhìn pháp luật, quan hệ tranh chấp “Đòi lại tài sản là tiền nạp tài cưới, hỏi” là một dạng tranh chấp đáng quan tâm để nghiên cứu, nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao kỹ năng kiểm sát, đảm bảo cho việc giải quyết vụ án được thấu tình, đạt lý.

Điển hình vụ án xảy ra tại một huyện trên địa bàn tỉnh Kiên Giang, nội dung: Anh A và chị B quen biết nhau qua ứng dụng Zalo, sau vài tháng thì cả hai quyết định kết hôn nên gia đình anh A cùng họ hàng sang nhà chị B để giao số tiền 20.000.000 đồng nạp tài cho gia đình chị B và hai bên thống nhất ngày tổ chức tiệc cưới cho anh A và Chị B. Sau đó, chị B vì lý do cá nhân không chịu cưới anh A nữa nhưng không thông báo cho anh A biết và trả lại số tiền nạp tài cho gia đình anh A. Đến ngày cưới gia đình chị B không tổ chức hôn lễ cho anh A và chị B như đã thỏa thuận mà bỏ đi khỏi địa phương, nên anh A và gia đình anh A khởi kiện yêu cầu cha mẹ chị B trả lại số tiền nạp tài 20.000.000 đồng. Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử buộc cha mẹ chị B phải trả lại cho cha mẹ anh A số tiền trên. Sau khi xét xử sơ thẩm, phía cha mẹ của chị B kháng cáo không đồng ý với bản án sơ thẩm, vì cho rằng chị B không phải là con ruột của họ, chỉ sống chung nhà và người nhận tiền nạp tài nói trên là anh A, chị B chứ không phải họ. Sau khi Tòa án tỉnh thụ lý phúc thẩm đã thực hiện các thủ tục tố tụng và đưa vụ án ra xét xử, nhưng phía người kháng cáo là cha, mẹ chị B không đến phiên tòa mặc dù được triệu tập hợp lệ nhiều lần, nên vụ án phải đình chỉ xét xử phúc thẩm. Qua thực tiễn nghiên cứu vụ án và quá trình giải quyết của Tòa án hai cấp, thấy rằng:

Thứ nhất: Về quan hệ pháp luật tranh chấp, Tòa án sơ thẩm xác định là “Tranh chấp đòi lại tài sản”. Theo người viết: nhà trai tự nguyện đến nhà và đưa cho nhà gái 20.000.000 đồng tiền nạp tài để giao ước ngày tổ chức đám cưới cho anh A, chị B, tại đây chị B và gia đình chị B đồng ý ngày tổ chức lễ cưới. Như vậy, giao dịch dân sự này là giao dịch tặng cho có điều kiện được quy định Điều 462 Bộ luật dân sự (BLDS) năm 2015, cụ thể: “Bên tặng cho có thể yêu cầu bên được tặng cho thực hiện một hoặc nhiều nghĩa vụ trước hoặc sau khi tặng cho. Điều kiện tặng cho không được vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội. Trường hợp phải thực hiện nghĩa vụ trước khi tặng cho, nếu bên được tặng cho đã hoàn thành nghĩa vụ mà bên tặng cho không giao tài sản thì bên tặng cho phải thanh toán nghĩa vụ mà bên được tặng cho đã thực hiện. Trường hợp phải thực hiện nghĩa vụ sau khi tặng cho mà bên được tặng cho không thực hiện nghĩa vụ, thì bên tặng cho có quyền đòi lại tài sản và yêu cầu bồi thường thiệt hại”.

Vậy theo quy định pháp luật, hôn sự được sự đồng ý giữa 02 chủ thể anh A và gia đình anh A với chị B và gia đình chị B, giao dịch tặng cho“tiền nạp tài tiệc cưới” này không trái với pháp luật, đạo đức xã hội và việc tổ chức lễ cưới là một sự kiện tương lai chắc chắn phải thực hiện khi nhà gái nhận tiền từ nhà trai. Tuy nhiên, đến ngày cưới hỏi như đã giao ước thì gia đình chị B không tổ chức, có thể coi là “vi phạm nghĩa vụ” nên cha, mẹ anh Avà anh A khởi kiện đòi lại số tiền trên là hợp lý, phù hợp với quy định tại khoản 3 Điều 462 BLDS năm 2015 về tặng cho tài sản có điều kiện, theo đó: “Trong trường hợp phải thực hiện nghĩa vụ sau khi tặng cho mà bên được tặng cho không thực hiện thì bên tặng cho có quyền đòi lại tài sản và yêu cầu bồi thường thiệt hại”. Vì vậy, Tòa án sơ thẩm xác định quan hệ tranh chấp là “Tranh chấp đòi lại tài sản” là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 164 BLDS năm 2015, quy định chủ sở hữu, chủ thể có quyền khác đối với tài sản có quyền yêu cầu Tòa án, cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác buộc người có hành vi xâm phạm quyền phải trả lại tài sản, chấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật việc thực hiện quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản và yêu cầu bồi thường thiệt hại.

- Thứ hai: Về xác định nguyên đơn, ai là người khởi kiện. Cần phải xác định số tiền nạp tài của nhà trai cho nhà gái, đây là số tiền của ai? Xác định được quyền sở hữu số tiền mới xác định được chủ thể nào có quyền khởi kiện, để tránh trường hợp người khởi kiện đòi lại tài sản là cha mẹ chú rể, nhưng đến khi xác minh, lấy lời khai thì chú rể nói rằng đây là tiền của chú rể đưa cho cha mẹ để đi nạp tài hoặc loại trừ trường hợp là tiền của cô dâu và chú rể cùng dành dụm đưa cho cha, mẹ để tổ chức tiệc cưới, nếu là tiền chung của cô dâu, chú rể mà cô dâu chứng minh được thì rất khó xác định tư cách tham gia tố tụng của những người nêu trên. Trường hợp này nên có hướng dẫn quy định cụ thể về việc xác định ai là người được quyền khởi kiện nếu như phát sinh tranh chấp về đòi lại tiền nạp tài để đảm bảo việc xác định đúng tư cách tham người gia tố tụng, giúp vụ án giải quyết nhanh chóng, đúng quy định pháp luật hơn.

- Thứ ba: Về phía xác định bị đơn có nghĩa vụ trả tiền nạp tài, trong vụ án này thật khó để xác định rạch ròi ai là người nhận số tiền nạp tài, cha mẹ chị B hay chính chị B để buộc hoàn trả. Như trường hợp này, cha mẹ chị B nói rằng chị B và anh A cùng nhận, do đó việc nguyên đơn yêu cầu bị đơn cha mẹ chị B trả lại tiền là chưa đủ căn cứ vững chắc, hơn nữa qua hồ sơ thể hiện chị B chỉ ở chung nhà chứ không phải con ruột của bị đơn. Lỗi đầu tiên về phần gia đình nhà trai không tìm hiểu kỹ gia đình nhà gái để xảy ra trường hợp trên, tuy nhiên, tại buổi nói chuyện giữa 02 gia đình, phía nhà gái cũng không nói rõ ràng có phải cha mẹ ruột chị B hay không mà khi nhận tiền xong, không tổ chức lễ cưới lại cho rằng chị B chỉ ở chung nhà chứ không phải quan hệ ruột thịt. Đối với lời khai của người làm chứng cũng chỉ ở mức tham khảo vì buổi nạp tài chỉ có phía 02 bên gia đình, do đó sẽ có xu hướng người làm chứng phía nhà trai sẽ bảo vệ nhà trai, người làm chứng phía nhà gái sẽ bảo vệ nhà gái khiến lời khai sẽ thiếu khách quan. Như vậy, trường hợp này có sự mập mờ giữa người nhận tiền nên khó có thể xác định được bị đơn trong vụ án và nghĩa vụ hoàn trả là ai. Đây cũng là một trong những vướng mắc cần có hướng dẫn, quy định cụ thể khi xác định ai có nghĩa vụ trả lại số tiền nạp tài nếu như có tranh chấp xảy ra.

Lễ cưới, hỏi là một sự kiện quan trọng trong cuộc sống con người, khi tiến hành lễ cưới ai cũng mong muốn được tiến hành trong vui vẻ, hạnh phúc và suôn sẻ. Do đó, việc hoàn thiện pháp luật liên quan đến tiền nạp tài tiệc cưới và các vấn đề liên quan đến cưới, hỏi sẽ tạo hành lang pháp lý để người dân hiểu rõ về mục đích và việc sử dụng đúng mục đích số tiền nạp tài như giao kết giữa hai gia đình, tránh trường hợp có người lợi dụng kẽ hở pháp luật, tạo ra những tình huống không mong muốn để lợi dụng tập quán, lợi dụng lòng tin cố tình chiếm đoạt số tiền nạp tài, đi ngược lại phong tục tập quán của địa phương, gây mất niềm tin vào nét đẹp truyền thống về phong tục cưới, hỏi của người Việt Nam./.

                                                   Phòng 9 - VKSND tỉnh Kiên Giang





 
Đăng vào lúc: 08:24 10/11/2022
Được sự chỉ đạo và cho phép của Lãnh đạo Viện Kiểm sát nhân dân (VKSND) thành phố Rạch Giá và Thành đoàn Rạch Giá. Ngày 06/11/2022 Chi đoàn VKSND thành phố Rạch Giá phối hợp với các chi đoàn Khối ngành thành phố Rạch Giá tổ chức chương trình hưởng ứng " Ngày Pháp luật nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam" tại trường Trung học Cơ sở Nguyễn Du với nhiều hoạt động như: Tuyên truyền "Luật Nghĩa vụ Quân sự", tuyên truyền "Luật An toàn giao thông" và Tổ chức Phiên tòa giả định tuyền truyền về tội phạm ma túy, với hơn 350 lượt đoàn viên, hội viên và học sinh tham dự.

 
Đăng vào lúc: 11:20 31/10/2022
Thực hiện Kế hoạch của Đảng ủy Khối các Cơ quan - Doanh nghiệp tỉnh về tổ chức lớp bồi dưỡng nghiệp vụ công tác đảng cho cấp ủy viên chi bộ trực thuộc năm 2022. Đảng ủy Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh cử 05 đồng chí tham dự gồm; lớp thứ nhất có đồng chí Nguyễn Nghĩa Biên, Bí thư chi bộ hình sự 1, đồng chí Vương Quốc Diệu, Phó Bí thư chi bộ hình sự 2, đồng chí Ngô Thái Hòa, Phó Bí thư chi bộ Tổ chức - Thanh tra; lớp thứ hai có đồng chí Chiêm Văn Hùng, Phó Bí thư chi bộ Dân sự - Hành chính, đồng chí Hồ Thanh Lam, Chi ủy viên chi bộ Văn phòng tổng hợp.

 
Đăng vào lúc: 11:09 31/10/2022
Hiện nay việc tranh chấp đất đai trong gia đình là một vấn không mấy xa lạ hiện nay, theo phong tục tập quán của người Việt Nam thường giải quyết tranh chấp bằng cách “đóng cửa bảo nhau”, nhưng khi sự việc không thể tự thỏa thuận giải quyết thì phải nhờ đến luật pháp. Nguyên nhân được xác định là do đất đai ngày càng có giá trị lớn, dẫn đến tình trạng người thân trong gia đình kéo nhau ra tòa tranh chấp ngày càng nhiều, trong đó có nhiều loại tranh chấp như: Tranh chấp tài sản thừa kế, tranh chấp quyền sử dụng đất, tranh chấp đòi lại tài sản là quyền sử dụng đất, yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (CNQSD), tranh chấp hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất…các vụ án này thường phức tạp và kéo dài, khiến cho mối quan hệ trong gia đình ngày càng rạn nứt.

 
Đăng vào lúc: 10:04 31/10/2022
Ngày 14/10/2022, Chánh án Tòa án nhân dân (TAND) tối cao đã ban hành Quyết định 323/QĐ-CA công bố thêm 4 bản án lệ sau khi được Hội đồng thẩm phán TAND tối cao thông qua, gồm: Án lệ số 53/2022/AL về việc hủy kết hôn trái pháp luật; Án lệ số 54/2022/AL về xác định quyền nuôi con dưới 36 tháng tuổi trong trường hợp người mẹ không trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con; Án lệ số 55/2022/AL về công nhận hiệu lực của hợp đồng vi phạm điều kiện về hình thức; Án lệ số 56/2022/AL về việc giải quyết tranh chấp di dời mồ mả. 4 án lệ được áp dụng trong xét xử từ ngày 15/11/2022.

 
Đăng vào lúc: 10:02 31/10/2022
Sáng ngày 28/10/2022, Viện Kiểm sát nhân dân (VKSND) tối cao đã tổ chức Hội nghị trực tuyến về tập huấn công tác kiểm sát việc giải quyết các vụ, việc dân sự, hôn nhân và gia đình. Hội nghị đã được trực tuyến đến các điểm cầu trong cả nước.

 
Đăng vào lúc: 16:25 20/10/2022
Vào tối ngày 15/10/2022, tại Trung tâm Hội nghị tỉnh Vĩnh Phúc, Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh tổ chức Lễ trao Giải thưởng “Cán bộ, công chức, viên chức trẻ giỏi” toàn quốc lần thứ IX, năm 2022. Dự lễ tuyên dương có Bí thư Trung ương Đoàn Ngô Văn Cương và Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy Vĩnh Phúc Phạm Hoàng Anh.
 


 
Đăng vào lúc: 15:36 24/09/2013
Thực hiện Kế hoạch số 03-KH/BCSĐ ngày 11/6/2013 của Ban Cán sự Đảng VKSND tối cao về xây dựng kế hoạch sơ kết 05 năm thực hiện Chỉ thị số 21-CT/TW ngày 26/3/2008 của Bộ Chính trị (Chỉ thị 21-CT/TW) về tiếp tục tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo công tác phòng, chống và kiểm soát ma túy trong tình hình mới. Trên cơ sở chức năng nhiệm vụ và tình hình thực tế của đơn vị, địa phương, VKSND tỉnh Kiên Giang sơ kết 05 năm (từ 01/6/2008 đến 31/5/2013) thực hiện Chỉ thị số 21-CT/TW của Bộ Chính trị như sau:..

 
Đăng vào lúc: 15:21 25/09/2013
Vừa qua, Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh đã phối hợp với Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang tiến hành kiểm tra, rà soát 16 trường hợp hồ sơ đề nghị xét đặc xá đợt 2/9 năm 2013 đối với 16 bị án đang được hoãn, tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù trong toàn tỉnh Kiên Giang, có đủ điều kiện, tiêu chuẩn đề nghị xét đặc xá miễn chấp hành hình phạt tù theo quy định tại Quyết định số 1251/2013/QĐ-CTN ngày 20/7/2013 của Chủ tịch nước.

 
Đăng vào lúc: 10:16 29/10/2014
Công ước Luật Biển của Liên hợp quốc 1982 (gọi tắt là Công ước 1982) là kết quả của Hội nghị Luật biển lần thứ III của Liên hợp quốc, kéo dài từ năm 1973 đến năm 1982 nhằm xây dựng một trật tự pháp lí quốc tế mới về biển và đại dương. Được coi là “Hiến pháp về biển và đại dương”, Công ước 1982 quy định một cách toàn diện các quyền và nghĩa vụ của tất cả các quốc gia (có biển, không có biển, bất lợi về mặt địa lí…)

 
Đăng vào lúc: 09:39 30/10/2014
Giải quyết tranh chấp được thừa nhận là một trong những bước phát triển quan trọng nhất trong việc giải quyết tranh chấp quốc tế kể từ khi thông qua Hiến chương Liên hợp quốc và Quy chế của Tòa án quốc tế. Hệ thống giải quyết tranh chấp trong Công ước 1982 được xây dựng với mục tiêu bảo vệ và duy trì trật tự pháp lí quốc tế mới về biển và đại dương khỏi những giải thích và vận dụng đơn phương có thể dẫn đến việc phá vỡ trật tự pháp lí này thông qua...

 
Đăng vào lúc: 15:48 08/09/2015
Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang vừa có cáo trạng truy tố các bị can Trần Hen, Tô Thị Kỳ Trân về tội “Tham ô tài sản"; Nguyễn Văn Dũng, Lê Thị Hạnh, Nguyễn Thị Hoàng Thơm về tội “Cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng”; Nguyễn Thị Dung Hương về tội “Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng". Ngoài ra bị can Nguyễn Văn Dũng còn bị truy tố về tội “Lợi dụng chức vụ quyền hạn trong khi thi hành công vụ”. Vụ án xảy ra tại Bệnh viện đa khoa huyện Vĩnh Thuận, tỉnh Kiên Giang.

 
Đăng vào lúc: 16:23 12/05/2016
Ngày 06/4/2016, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao đã ban hành Quyết định số 220/QĐ-CA về việc công bố án lệ. Dưới đây là 06 án lệ đã được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua.

 
 
VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG
Địa chỉ: Số 573 Nguyễn Trung Trực, P. An Hòa, TP. Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang
Chịu trách nhiệm: ông Lê Văn Dương - Phó Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang.
Email: bbt.vkskiengiang@gmail.com     Ðiện thoại: 0297. 3811869     Fax: 0297. 3811873
Chung nhan Tin Nhiem Mang